HOT! HOT! GIÁ CƯỚC TÀU HCM – CHENNAI

Bạn đang tìm đối tác vận chuyển hàng đi Cảng Chennai – Ấn Độ?

Goldwell Logistics là công ty chuyên vận chuyển đường biển quốc tế từ cảng Hồ Chí Minh đi Cảng Chennai Ấn Độ với giá cả cạnh tranh và thời gian vận chuyển nhanh nhất. Lịch tàu từ 2 đến 3 chuyến trong tuần, và luôn đảm bảo đủ chỗ cho khách hàng có nhu cầu vận chuyển hàng đi cảng Chennai.

Vận chuyển hàng đi Chennai - Ấn Độ

Giá cước và lịch tàu đi Cảng Chennai – Ấn Độ

Với khả năng cạnh tranh vượt trội về giá cả và chất lượng dịch vụ vận chuyển hàng hóa đi cảng Chennai, Goldwell logistics cung cấp giá cả và lịch trình vận chuyển tàu biển như sau:

HCM - CHENNAI

Tại sao chọn dịch vụ vận chuyển đi Chennai của Goldwell Logistics?

  • Nhiều năm kinh nghiệm trong vận chuyển hàng hóa đi cảng Chennai của Ấn Độ
  • Giá vận chuyển tàu biển đi Chennai của Goldwell Logistics cạnh tranh trên thị trường
  • Là công ty chuyên tuyến vận chuyển đường biển từ Hồ Chí Minh (HCM) – Chennai
  • Luôn cập nhật thông tin tình trạng hàng hóa và thời gian vận chuyển giao hàng
  • Là đại lý hãng tàu có tên tuổi trong ngành vận tải biển quốc tế

 

Hãy liên hệ chúng tôi để được tư vấn và báo giá:
Tel/Fax: 028.38422985; 028.38449880
Email: sales@goldwell-logistics.com; goldwell@goldwell-logistics.com
Hotline: 0934-171-588

Khiếu nại về xuất xứ hàng hóa gia tăng

Theo thống kê của Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), thuộc Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam các khiếu nại từ các thị trường xuất khẩu đối với xuất xứ hàng hóa của Việt Nam đang có xu hướng gia tăng.

Khiếu nại về xuất xứ hàng hóa gia tăng
Khiếu nại về xuất xứ hàng hóa gia tăng

Nguyên nhân dẫn đến các khiếu nại về xuất xứ hàng hóa là do các đối tác nghi ngờ có việc làm giả chữ ký có thẩm quyền ký C/O và tổ chức cấp phát C/O theo quy định pháp luật Việt Nam đối với hàng chuyển tải bất hợp pháp, hàng không đủ tiêu chuẩn về xuất xứ Việt Nam.

Ông Châu Việt Bắc, Phó tổng thư ký VIAC cho biết, tính đến hết tháng 12/2018, Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam nhận được 110 thư yêu cầu thẩm tra lại 287 bộ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O). Trong đó VCCI đã trả lời 105 thư thẩm tra và thẩm tra cho 237 bộ chứng từ.

Các mặt hàng bị yêu cầu thẩm tra phổ biến là xe, lốp xe, đinh vít, quần áo, gạch men, tôm, thực phẩm, găng tay, da giày. Trong đó thị trường EU chiếm 90%, còn lại 10% là các thị trường khác chủ yếu là Đài Loan, Ấn Độ, Turkey, Iraq.

Đối với nghi ngờ về hàng hóa chưa đủ tiêu chuẩn xuất xứ Việt Nam chủ yếu đối với các mặt hàng nhạy cảm đang bị áp thuế phòng vệ thương mại được xuất khẩu với số lượng lớn sang các nước hoặc các mặt hàng bị ngi nghờ về năng lực sản xuất của Việt Nam.

Điển hình trong 2016, Việt Nam nhập khẩu trên 1 triệu tấn nhôm, tuy nhiên mặt hàng nhôm xuất khẩu lấy xuất xứ Việt Nam rất khiêm tốn dẫn đến mặt hàng này bị điều tra về xuất xứ hàng hóa.

Ngoài ra, cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung cũng đặt ra vấn đề về gian lận hàng hóa làm tăng phòng vệ thương mại từ thị trường Hoa Kỳ đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Điều này không chỉ làm ảnh hưởng đến các doanh nghiệp làm ăn chân chính mà còn ảnh hưởng đến vấn đề điều tra xuất xứ hàng hóa.

Theo ông Châu Việt Bắc, thực tế cho thấy trong quá trình kiểm tra xuất xứ hàng hóa các doanh nghiệp Việt Nam còn gặp một số vấn đề về chứng từ, dữ liệu, cơ sở sản xuất… không đáp ứng được yêu cầu kiểm tra. Do vậy, để chủ động ứng phó việc quản trị chứng từ liên quan đến xuất xứ hàng hoá và giá cả phải chuyên nghiệp. Theo đó, các doanh nghiệp cần lưu trữ, quản lý chứng từ xuất xứ hàng hóa để sẵn sàng phục vụ cho quá trình kiểm tra…/.

 

Nguồn: Nguyễn Huế – Báo Hải Quan

Doanh nghiệp cần tận dụng cơ chế xác định trước xuất xứ

Theo lãnh đạo Cục Hải quan TPHCM, chiến tranh thương mại Mỹ- Trung sẽ là cơ hội để các DN Việt Nam có thể tận dụng gia tăng xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ.

Theo lãnh đạo Cục Hải quan TPHCM, chiến tranh thương mại Mỹ- Trung sẽ là cơ hội để các DN Việt Nam có thể tận dụng gia tăng xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chiến tranh thương mại có thể tác động tiêu cực tới thương mại Việt Nam với nguy cơ cao về gian lận thương mại qua xuất xứ hàng hóa, chuyển tải hàng hóa bất hợp pháp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hàng hóa của Việt Nam sang Hoa kỳ. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã, đang và sắp đi vào thực thi, như: VKFTA, VN-EAEU FTA, AANZFTA, EVFTA, CPTPP,… dẫn đến việc cắt giảm thuế quan theo các FTA đã ký kết tạo thuận lợi, mở rộng các đối tượng được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, việc cắt giảm thuế quan cũng dẫn đến xu thế gian lận nhiều hơn về C/O để được hưởng ưu đãi ngày một gia tăng.

Tình trạng làm giả xuất xứ hàng hóa không chỉ khiến việc người tiêu dùng mất tin tưởng vào hàng hóa Việt Nam mà còn gây tác hại khôn lường đối với thương hiệu hàng Việt Nam. Chính vì lẽ đó, theo các chuyên gia, thông qua cơ chế xác định trước về xuất xứ, trị giá và phân loại mã số nhằm hỗ trợ các DN Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ, và một số thị trường khác sẽ giúp DN giảm chi phí tuân thủ và giúp hạn chế các rủi ro gian lận từ xuất xứ, trị giá hải quan…

Để hạn chế những rủi ro nêu trên, phòng ngừa gian lận qua xuất xứ hàng hóa, lãnh đạo Cục Hải quan TPHCM khuyến nghị các DN, đặc biệt DN xuất khẩu, nắm bắt nhanh và chắc cơ hội này, xác định trách nhiệm, cập nhật ngay các quy định mới về thủ tục hải quan và quy tắc, điều kiện áp dụng xác định trước mã số, xuất xứ và trị giá; tuân thủ các quy định về hải quan trong quá trình XNK.

Bà Ngô Hoàng Oanh, đại diện Cục Giám sát quản lý về hải quan – Tổng cục Hải quan cho rằng, khi Việt Nam đã trở thành thành viên của rất nhiều hiệp định thương mại thế hệ mới, các DN cần tận dụng cơ hội xác định trước để áp dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Việc chống gian lận xuất xứ, chống chuyển tải bất hợp pháp, cơ quan Hải quan đã thực hiện từ rất lâu rồi chứ không phải khi có chiến tranh thương mại Mỹ – Trung mới triển khai. Tuy nhiên, khi cuộc chiến thương mại xảy ra, việc chống gian lận về xuất xứ đặc biệt là hàng Trung Quốc đội lốt hàng Việt Nam để xuất khẩu sẽ được quan tâm đẩy mạnh thực hiện, tránh hiện tượng doanh nghiệp lợi dụng mượn đường Việt Nam để xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ.

Theo đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, cùng với cơ quan quản lý, khi có thông tin về chính sách thương mại của Hoa Kỳ đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, VCCI đã có những thông tin cảnh báo đối với các điểm cấp C/O nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát đối với việc cấp C/O cho hàng hóa xuất khẩu, tránh xảy ra tình trạng hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam không gia công, sản xuất mà chỉ mượn đường để XK!

 

Nguồn: L.T – Báo Hải Quan

 

Lập lại trật tự hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan

Hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan đang được cơ quan Hải quan xem xét ở nhiều khía cạnh nhằm lập lại trật tự. Một mặt, Tổng cục Hải quan đã có những chỉ đạo chấn chỉnh để các đại lý làm thủ tục hải quan thực hiện đúng quy định pháp luật, mặt khác, tiếp tục có những sửa đổi về chính sách để phù hợp với thực tế. Đồng thời, Tổng cục Hải quan cũng nghiên cứu nâng cao năng lực đại lý làm thủ tục hải quan.

lap lai trat tu hoat dong dai ly lam thu tuc hai quan 101543
Hoạt động nghiệp vụ tại Chi cục Hải quan cảng Cái Lân Ảnh: thu trang

Nhiều đại lý không báo cáo hoạt động

Tính đến đầu tháng 3/2019, Tổng cục Hải quan đã quyết định công nhận hơn 1.000 đại lý làm thủ tục hải quan. Trong số này phần nhiều đại lý làm thủ tục hải quan thuộc quản lý của Cục Hải quan Hà Nội (229 đại lý), TP Hồ Chí Minh (440 đại lý), Hải Phòng (138 đại lý). Tuy các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động đại lý làm thủ tục đã có đầy đủ, nhưng theo Tổng cục Hải quan, thời gian qua rất nhiều DN chưa chấp hành nghiêm túc. Nhiều DN chưa thực hiện chế độ báo cáo tình hình hoạt động theo quy định tại Khoản 9 Điều 13 Thông tư 12/2015/TT-BTC, thuộc trường hợp xử lý tại Khoản 2 Điều 7 Thông tư 12/2015/TT-BTC. Trong đó, Cục Hải quan Hà Nội lập danh sách hơn 90 DN, Hải quan TP Hồ Chí Minh hơn 200 DN. Để đảm bảo thực hiện theo đúng quy định, Tổng cục Hải quan đã đề nghị các đại lý làm thủ tục hải quan nằm trong danh sách “cảnh báo” nhanh chóng kiểm tra, khắc phục những tồn tại.

Hiện tại Tổng cục Hải quan đang dự thảo Kế hoạch nâng cao năng lực đại lý làm thủ tục hải quan với nhiều hoạt động dự kiến triển khai như: Thông tin, tuyên truyền về hoạt động đại lý; cung cấp, cập nhật thông tin đến đại lý; phát triển kỹ năng nghề đại lý; trang bị kiến thức về thông quan; hỗ trợ đại lý; quản lý tuân thủ đại lý; đánh giá năng lực đại lý; phát triển quan hệ đối tác hải quan-đại lý-doanh nghiệp.

Dù đã có thông báo về việc thực hiện đầy đủ các quy định về báo cáo tình hình hoạt động, nhưng không phải DN nào cũng có ý thức khắc phục. Theo rà soát của Cục Giám sát quản lý về hải quan, trong số 300 đại lý làm thủ tục hải quan Tổng cục Hải quan yêu cầu phải nhanh chóng rà soát, báo cáo tình hình hoạt động thì chỉ có một nửa đã thực hiện yêu cầu.

Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan về vấn đề này, Giám đốc Công ty TNHH HNH Mover (TP Hồ Chí Minh) Trần Thị Kim Ngân (DN nằm trong danh sách “cảnh báo” của Tổng cục Hải quan-PV) cho biết: Sau khi nhận được thông báo của Tổng cục Hải quan, DN đã nhanh chóng rà soát và thực hiện báo cáo tình hình hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan, bao gồm loại hình XNK, số lượng DN ký hợp đồng, số tờ khai, kim ngạch.

Chia sẻ về việc thực hiện lập báo cáo tình hình hoạt động đại lý khó hay không? Bà Ngân cho biết, việc lập báo cáo khá đơn giản, DN chỉ mất thời gian ngắn (khoảng nửa ngày) là có thể hoàn thành việc lập báo cáo của cả vài năm. Bà Ngân giải thích về lí do DN nằm trong diện “cảnh báo” của Tổng cục Hải quan, nguyên nhân là do công ty chưa nghiên cứu kỹ quy định hiện hành liên quan đến hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan. Đây cũng là bài học để DN cẩn thận hơn trong quá trình thực hiện quy định pháp luật, hơn nữa việc thực hiện báo cáo định kỳ cũng giúp DN rà soát thường xuyên tình hình hoạt động đại lý, qua đó kiểm soát tốt hơn và có kế hoạch mở rộng hoạt động dịch vụ này.

Nỗ lực tạo cơ chế cho đại lý hoạt động

Hiện Cục Giám sát quản lý về hải quan đã báo cáo lãnh đạo Tổng cục Hải quan để xem xét xử lý đối với đại lý làm thủ tục hải quan cố tình vi phạm, có thể là chấm dứt hoạt động.

Cũng liên quan đến hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan, Tổng cục Hải quan đã hoàn thiện dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 12/2015/TT-BTC theo hướng tạo thuận lợi song vẫn đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước; quy định cấp và đình chỉ, chấm dứt hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan chặt chẽ; đảm bảo chế tài xử lý đối với các trường hợp đại lý làm thủ tục hải quan hoạt động không đúng quy định, hoặc cố tình gian lận.

Trước đó, cuối năm 2018, Tổng cục Hải quan đã thực hiện khảo sát dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan tại các cục hải quan tỉnh, thành phố có số lượng tờ khai nhiều, số thu thuế lớn như Cục Hải quan Lạng Sơn; Hà Nội; Hải Phòng; Quảng Ninh; Thanh Hóa; Đà Nẵng; Đồng Nai; TP Hồ Chí Minh; Bình Dương để định hướng các giải pháp cải thiện chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan. Xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai các giải pháp nâng cao năng lực hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan.

Tổng cục Hải quan đã thu thập thông tin từ cả cơ quan Hải quan, đại lý làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp XNK (tổng số phiếu phát ra gần 2.400 phiếu, tổng số phiếu thu về hơn 1.100 phiếu, trong đó có gần 250 đại lý làm thủ tục hải quan đã gửi phiếu khảo sát/637 phiếu gửi đến các đại lý).

Kết quả khảo sát đã ghi nhận những vấn đề phản ánh chủ yếu liên quan đến các vấn đề như: Việc đại lý hải quan không ký hợp đồng đại lý, không sử dụng chữ ký số của đại lý để khai báo hải quan; bất cập trong cấp/gia hạn mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức; vấn đề về hỗ trợ trong cung cấp, chia sẻ thông tin; việc sử dụng chữ ký số của đại lý hải quan chưa được chấp nhận ở các cơ quan chuyên ngành; các phản ánh về mối quan hệ giữa đại lý và DN sử dụng đại lý; nguyên nhân DN không sử dụng dịch vụ đại lý hải quan.

 

Nguồn: Ngọc Linh – Báo Hải Quan

Doanh nghiệp vẫn than khổ vì kiểm tra chuyên ngành

Cải cách thủ tục kiểm tra chuyên ngành là một trong những giải pháp tạo thuận lợi thương mại, nâng cao chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới. Tuy nhiên, hiện nay doanh nghiệp vẫn than khổ vì hoạt động này.

Một mặt hàng kiểm định 2 lần (?)

Chia sẻ về những bất cập trong thực hiện kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa nhập khẩu tại cuộc họp với Đoàn công tác của Tổng cục Hải quan ngày 19/3, ông Phạm Lê Tuấn, Giám đốc Công ty ô tô ISUZU cho biết, công ty này nhập khẩu phụ tùng ô tô phục vụ cho lắp ráp xe ô tô nguyên chiếc. Sau khi lắp lắp xe hoàn chỉnh, công ty phải thực hiện đăng kiểm cho cả chiếc xe để công bố hợp quy trước khi đưa ra thị trường. Theo quy định hiện hành, khi nhập khẩu các linh kiện để lắp ráp, công ty đều phải thực hiện kiểm tra chuyên ngành. Như vậy, linh kiện ô tô nhập khẩu phải kiểm định chất lượng 2 lần. Từ bất cập về kiểm tra chuyên ngành nêu trên, Giám đốc Công ty ô tô ISUZU kiến nghị, không kiểm tra chuyên ngành đối với các sản phẩm phục vụ cho lắp ráp xe ô tô hoàn chỉnh. Ngoài ra, doanh nghiệp còn kiến nghị, xem xét không kiểm tra chuyên ngành đối với các mặt hàng là kinh kiện phục vụ cho vấn đề hậu mãi.

Liên quan đến bất cập nêu trên, ông Lê Thanh Hải, Phó Trưởng phòng Giám sát quản lý- Cục Hải quan TPHCM cho rằng, trên thực tế nhiều doanh nghiệp nhập khẩu phụ tùng ô tô gặp vướng mắc như của ISUZU. Đối với nhóm mặt hàng nhập khẩu thuộc mã HS 8708 theo quy định tại Thông tư 41/2018/TT-BGTVT ngày 30/7/2018 của Bộ Giao thông vận tải quy định Danh mục hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Giao thông vận tải (thuộc Phụ lục II, Thông tư 41). Đối với những sản phẩm này, doanh nghiệp không phải nộp thông báo kết quả kiểm tra nhà nước về chất lượng trước khi thông quan, nhưng phải nộp bản đăng ký có xác nhận của cơ quan kiểm tra nhà nước về chất lượng trước khi thông quan theo quy định tại Nghị định 74/2018/NĐ-CP. Theo Cục Hải quan TPHCM, quy định này chỉ phù hợp với các doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp đưa ra thị trường tiêu thụ, còn đối với doanh nghiệp nhập khẩu phục vụ sản xuất, lắp ráp xe tại các dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp là chưa phù hợp. Bởi vì, sản phẩm cuối cùng được sản xuất, lắp ráp là xe ô tô hoàn chỉnh. Với sản phẩm này, nhà sản xuất bắt buộc phải thực hiện việc chứng nhận, công bố hợp quy trước khi đưa ra thị trường.

Để gỡ khó cho doanh nghiệp, Cục Hải quan TPHCM đề nghị không thực hiện việc kiểm tra chất lượng đối với sản phẩm, hàng hóa thực hiện Phụ lục II trong trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu phục vụ cho việc sản xuất, lắp ráp xe ô tô của chính doanh nghiệp.

Mất cơ hội kinh doanh vì kiểm tra chuyên ngành

Không chỉ than khổ vì thủ tục chồng chéo, một số doanh nghiệp còn mất cơ hội kinh doanh do vướng thủ tục kiểm tra chuyên ngành. Đại diện Tập đoàn ô tô Trường Hải cho biết, nhằm mở rộng xuất khẩu xe ô tô sang Thái Lan, đơn vị đưa xe sản xuất tại Việt Nam tham gia triển lãm tại Thái Lan theo hình thức tạm xuất, tái nhập. Tuy nhiên, khi làm thủ tục tạm xuất, doanh nghiệp được yêu cầu phải có giấy chứng nhận kiểm định. Không lo được giấy kiểm định chất lượng, DN mất cơ hội tham gia triển lãm, đồng nghĩa với việc mất cơ hội kinh doanh. “Sắp tới, Trường Hải sẽ xuất khẩu lô xe bus sang Thái Lan, nhưng nếu thủ tục kiểm tra chuyên ngành vẫn không được thay đổi, sẽ làm mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp”- đại diện Tập đoàn ô tô Trường Hải cho biết.

Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1, thủ tục kiểm tra chuyên ngành mặc dù đã có chuyển biến, tuy nhiên vẫn còn tình trạng một số bộ, ngành chưa thống nhất trong việc quản lý. Nhiều trường hợp chồng chéo (cùng một mặt hàng nhưng nhiều bộ ngành quản lý, quy định trùng lắp hoặc không thống nhất, khó thực hiện). Hiện vẫn còn một số mặt hàng nhập khẩu chịu sự quản lý của nhiều bộ ngành, như: Ra đa hàng hải – vừa kiểm tra chất lượng theo Thông tư 04/2018/TT-BTTT của Bộ Thông tin Truyền thông, vừa kiểm tra chất lượng theo Thông tư 41/2018/TT-BGTVT ngày 30/7/2018 của Bộ Giao thông vận tải; Hệ thống lạnh – vừa kiểm tra chất lượng theo Quyết định 3482/QĐ-BKHCN ngày 8/12/2017 của Bộ Khoa học và Công nghệ, vừa phải kiểm tra chất lượng theo Thông tư 22/2018/TT-BLĐTBXH ngày 6/12/2018 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội; thang máy, nồi hơi – vừa kiểm tra chất lượng theo Thông tư 41/2018/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải, vừa kiểm tra chất lượng theo Thông tư 22/2018/TT-BLĐTBXH ngày của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

Trên thực tế, doanh nghiệp mất rất nhiều thời gian và chi phí cho khâu kiểm tra chuyên ngành do các cơ quan này chưa áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro, chưa có quy định công nhận kết quả kiểm tra của các nước xuất khẩu (kể cả xuất xứ từ các nước có trình độ sản xuất tiên tiến như Australia, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada…) dẫn đến kéo dài thời gian thông quan hàng hóa…

Từ thực trên, cơ quan Hải quan đề xuất cải cách và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về kiểm tra chuyên ngành thống nhất giữa các bộ, ngành. Trong đó, xây dựng Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành cần nêu rõ tên hàng, mã số HS thống nhất với mã số hàng hóa trong Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành; hình thức và điều kiện quản lý chuyên ngành cụ thể, rõ ràng, thủ tục quy định đơn giản. Hạn chế ràng buộc hoặc giới hạn phải kiểm tra một nơi nhất định, mà có thể đăng ký kiểm tra tại nơi DN thấy thuận tiện nhất để giảm chi phí phát sinh nhằm tạo thuận lợi cho DN và cơ quan Hải quan.

Nguồn: Lê Thu – Báo Hải Quan

 

Chứng từ chứng minh hàng hóa được đảm bảo nguyên trạng trong trường hợp quá cảnh qua nước trung gian

Theo Công văn số 887/TCHQ-GSQL ngày 08 tháng 02 năm 2013 về việc vướng mắc C/O:

“””

  1. Chứng từ chứng minh hàng hóa được đảm bảo nguyên trạng trong trường hợp quá cảnh qua nước trung gian:

Khi hàng hóa được vận chuyển qua lãnh thổ của một nước không phải là thành viên (đối với C/O mẫu D, E, AANZ, AI) và qua lãnh thổ của một nước thành viên hoặc không thành viên (đối với C/O mẫu AK), một trong những chứng từ phải được nộp cho cơ quan Hải quan Nước thành viên nhập khẩu là các chứng từ chứng minh rằng các yêu cầu của quy định vận chuyển trực tiếp được đáp ứng. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể nộp một trong những chứng từ sau:

a) Chứng từ do cơ quan hải quan nước quá cảnh xác nhận về việc hàng hóa nằm dưới sự giám sát của cơ quan hải quan nước đó và chưa được làm thủ tục để thông quan; hoặc

b) Giấy xác nhận của chính cơ quan, tổ chức phát hành vận đơn cho lô hàng xuất nhập khẩu chứng minh hàng hóa quá cảnh là cần thiết vì lý do địa lí hoặc do các yêu cầu có liên quan trực tiếp đến vận tải; Hàng hóa không tham gia vào giao dịch thương mại hoặc tiêu thụ tại nước quá cảnh đó; Hàng hóa không trải qua bất kỳ công đoạn nào khác ngoài việc dỡ hàng và bốc lại hàng hoặc những công việc cần thiết để bảo quản hàng hóa trong điều kiện tốt. Đối với giấy xác nhận phát hành bởi công ty con, chi nhánh hay đại lý của công ty vận tải, tổ chức phát hành vận đơn cho lô hàng tại Việt Nam thì cần thêm giấy ủy quyền của chính hãng vận tải; hoặc

c) Trong trường hợp hàng hóa được vận chuyển nguyên container, số container, số chì không thay đổi từ khi xếp hàng lên phương tiện vận tải tại cảng xếp hàng của nước thành viên xuất khẩu đến khi nhập khẩu vào Việt Nam thì xem xét chấp nhận chứng từ chứng minh vận tải trực tiếp là vận đơn và lệnh giao hàng của hãng tàu, trong đó thể hiện số container, số chì không thay đổi.

Nội dung trên thay thế các hướng dẫn tại các công văn ban hành trước đây về yêu cầu chứng từ chứng minh trong trường hợp hàng hóa quá cảnh.

“””

 

Thông tư 39/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều tại Thông tư 38/2015/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Theo đó, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có đủ cơ sở bác bỏ trị giá khai báo nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Người khai hải quan được yêu cầu khai làm rõ thêm thông tin về tên hàng, đơn vị tính nhưng không khai hoặc khai không đầy đủ;
  • Không kê khai hoặc kê khai không đúng, không đủ các chỉ tiêu liên quan đến trị giá hải quan trên tờ khai hàng hóa hoặc tờ khai trị giá (nếu có);
  • Có mâu thuẫn giữa các chứng từ tài liệu trong hồ sơ hải quan do người khai hải quan nộp cho cơ quan hải quan;
  • Không thoả mãn điều kiện khi áp dụng các phương pháp xác định trị giá tính thuế quy định tại Thông tư 39/2015/TT-BTC;
  • Áp dụng không đúng trình tự, nội dung các phương pháp xác định trị giá tính thuế theo quy định tại Thông tư 39/2015/TT-BTC.

Thông tư 39/2018/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 05/6/2018.

THÔNG TƯ 39/2018/TT-BTC
THÔNG TƯ 39/2018/TT-BTC

 

THÔNG TƯ 39/2018/TT-BTC: DỄ HIỂU, MINH BẠCH TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN

THÔNG TƯ 39/2018/TT-BTC: DỄ HIỂU, MINH BẠCH TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN

THÔNG TƯ 39/2018/TT-BTC: DỄ HIỂU, MINH BẠCH TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN
THÔNG TƯ 39/2018/TT-BTC: DỄ HIỂU, MINH BẠCH TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HẢI QUAN

Có hiệu lực từ 5/6/2018, giúp doanh nghiệp (DN) và cơ quan hải quan có căn cứ thực thi Nghị định 59/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP) quy định chi tiết về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan.

Đồng bộ quy định về hồ sơ hải quan

Theo đại diện Cục Giám sát quản lý hải quan (Tổng cục Hải quan), Thông tư 39/2018/TT-BTC (Thông tư 39), một trong những điểm quan trọng được bổ sung, sửa đổi so với Thông tư 38/2015/TT-BTC (Thông tư 38) là quy định về hồ sơ hải quan được chuẩn hóa và thống nhất. Cụ thể, trong Thông tư 38 hồ sơ hải quan được quy định rải rác ở nhiều điều (Điều 16; Điều 82; Điều 86; Điều 87; Điều 93; Điều 142; Điều 143); không quy định rõ ràng số lượng chứng từ phải nộp, xuất trình tại thời điểm thông quan, tại thời điểm kiểm tra sau thông quan và đặc biệt những chứng từ phải lưu tại trụ sở DN để chứng minh việc khai báo hải quan đã thực hiện. Do đó, cả DN và cán bộ hải quan khá lúng túng trong việc xác định những chứng từ nào là chứng từ phải nộp trong khi thực hiện thủ tục hải quan, những chứng từ nào phải lưu tại DN và nếu đã nộp cho cơ quan hải quan thì có phải lưu tại DN nữa hay không?

Tháo gỡ vướng mắc này, hồ sơ hải quan đã được quy định gọn tại Điều 16 và Điều 16a, Thông tư 39. Cụ thể, Điều 16 quy định hồ sơ hải quan khi làm thủ tục hải quan, theo nguyên tắc các chứng từ phải nộp là những chứng từ cần thiết trong quản lý hải quan. Điều 16a quy định việc lưu giữ hồ sơ hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu (XK), nhập khẩu (NK), đã liệt kê tất cả các chứng từ mà người khai hải quan phải lưu giữ và xuất trình cho cơ quan hải quan khi cần kiểm tra sau thông quan hoặc thanh tra chuyên ngành. “Quy định này đảm bảo tính minh bạch, dễ dàng cho người khai hải quan và cả cơ quan hải quan biết chính xác những chứng từ phải lưu giữ và những chứng từ được kiểm tra”, đại diện Cục Giám sát quản lý hải quan nhấn mạnh.

Một điểm mới tạo thuận lợi cho DN nêu trong Nghị định 59 được Thông tư 39 cụ thể hóa là nộp hồ sơ hải quan dưới dạng điện tử. Theo cơ quan hải quan, quy định hiện nay cho phép người khai hải quan có thể lựa chọn nộp hồ sơ hải quan dưới dạng giấy hoặc dạng điện tử. Nhưng thực tế vẫn còn tình trạng hải quan cửa khẩu yêu cầu DN ngoài hồ sơ điện tử phải nộp cả hồ sơ giấy. Điều này gây mất thời gian, tăng chi phí cho DN, chưa đảm bảo được việc cải cách thủ tục hành chính theo hướng điện tử, hạn chế tiếp xúc giữa DN và cơ quan hải quan. Do đó, quy định mới sẽ tháo gỡ được vướng mắc hiện tại.

Đảm bảo chống gian lận vi phạm về hải quan

Cũng theo đại diện Cục Giám sát quản lý hải quan, so với Thông tư 38, Thông tư 39 có bổ sung, sửa đổi các quy định về kiểm soát hải quan, đảm bảo ngăn ngừa gian lận vi phạm về hải quan.

Thông tư 39 có nhiều điểm mới nhằm tạo cơ sở pháp lý để cơ quan hải quan thực hiện ấn định thuế, trong các trường hợp sau khi hàng hóa đã được thông quan để người nộp thuế thay đổi mục đích sử dụng nhưng không tự giác khai báo với cơ quan hải quan; đồng thời đảm bảo xử lý các vướng mắc phát sinh trong thực tế, đặc biệt là trong công tác kiểm tra sau thông quan đối với mọi trường hợp phát sinh.

Cụ thể, nội dung này được sửa đổi theo hướng quy định rõ cách thức xác định số tiền thuế phải nộp đối với các trường hợp trên tờ khai XK hoặc NK lần đầu đã xác định được số tiền thuế. Trường hợp trên các tờ khai lần đầu đã xác định được số tiền thuế, thì số tiền thuế ấn định là số tiền thuế trung bình được xác định bằng cách lấy tổng số tiền các tờ khai nhân với tổng số hàng hóa thay đổi mục đích sử dụng. Thời hạn nộp tiền thuế ấn định và tính tiền chậm nộp tính theo thời hạn nộp thuế của tờ khai XK hoặc NK cuối cùng, nhằm đảm bảo quyền lợi của người nộp thuế phải nộp số tiền thuế chậm nộp với số tiền nhỏ nhất.

Bên cạnh đó, Thông tư 39 quy định rõ cách thức xác định số tiền thuế phải nộp đối với trường hợp tờ khai lần đầu không có số liệu về số tiền thuế hoặc không xác định được căn cứ tính thuế; thời hạn phải gửi quyết định ấn định thuế cho người nộp thuế trong thời hạn 8 giờ làm việc.

Trường hợp tờ khai lần đầu không có số liệu về số tiền thuế hoặc không xác định được căn cứ tính thuế, cơ quan hải quan ấn định thuế dựa trên số lượng, chủng loại, trị giá tính thuế, mức thuế, tỷ giá tính thuế, phương pháp tính thuế tại thời điểm ban hành quyết định ấn định thuế.

Ngoài các nội dung trên, Thông tư 39 còn sửa đổi các quy định về thủ tục tiếp nhận, giải quyết hồ sơ hoàn thuế, không thu thuế; xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa; tiền phạt được hoàn…

Thông tư 39 cũng quy định về việc hủy tờ khai và đưa hàng về bảo quản, xác nhận hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; miễn giảm hoàn thuế, giá trị tính thuế…

Thông tư 39/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều tại Thông tư 38/2015/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

HƯỚNG DẪN KHAI BÁO HẢI QUAN ĐIỆN TỬ ECUS5 VNACCS TỜ KHAI XUẤT KHẨU

Công ty Goldwell Logistics xin giới thiệu Video hướng dẫn cách kê khai và truyền tờ khai hải quan điện tử trên phần mền Ecus5 Vnaccs cho tờ khai xuất khẩu.

 

Công ty Goldwell Logistics là công ty chuyên về dịch vụ hải quan hàng hóa xuất nhập khẩu và là đại lý hãng tàu về dịch vụ vận chuyển hàng hóa đường biển và vận chuyển đường hàng không.

Ngoài ra, Goldwell Logistics còn cung cấp nhiều dịch vụ logistics và các dịch vụ hậu cần logistics.

Để được tư vấn hỗ trợ về THỦ TỤC HẢI QUANDỊCH VỤ XUẤT NHẬP KHẨU, quý khách hàng liên hệ với chúng tôi để được báo giá dịch vụ tốt nhất.

Email: sales@goldwell-logistics.com
Hotline: 0934171588

THÔNG TIN MỚI NHẤT VỀ CỘNG PHÍ CIC, D/O, VSC,… VÀO TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HẢI QUAN

Lãnh đạo Cục Thuế XNK phản hồi về quy định cộng phí CIC, vệ sinh container, D/O vào trị giá hải quan

(HQ Online)- Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan về quy định cộng phí CIC, vệ sinh container, D/O vào trị giá khai báo hải quan mà Tổng cục Hải quan vừa hướng dẫn hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện, ông Nguyễn Hoàng Tuấn- Phó Cục trưởng Cục Thuế XNK cho biết, Tổng cục Hải quan sẽ tiếp thu những kiến nghị hợp lý của DN liên quan đến vấn đề này.

Cảng Cái Lân (Quảng Ninh). Ảnh: M.Hùng

Theo ông Nguyễn Hoàng Tuấn, công văn 1237/TCHQ-TXNK ngày 8/3/2018 của Tổng cục Hải quan trên tinh thần Tổng cục Hải quan hướng dẫn chung các cục hải quan tỉnh, thành phố thực hiện theo đúng quy định về việc kiểm tra tính trị giá hải quan. Tuy nhiên, cụ thể về việc tính toán ra sao, cách thức cộng vào trị giá hải quan như thế nào thì Tổng cục Hải quan sẽ rà soát lại và sẽ có công văn hướng dẫn cụ thể cách tính từng loại phụ phí vào trị giá tính thuế hàng NK.

Phản hồi về kiến nghị của Hiệp hội DN dịch vụ logicstics Việt Nam (VLA) vừa có công văn gửi tới Tổng cục Hải quan kiến nghị về quy định cộng phí CIC, vệ sinh container, D/O vào trị giá khai báo hải quan, Phó Cục trưởng Cục Thuế XNK cho biết, Cục Thuế XNK đã nhận được kiến nghị của VLA. Với tinh thần sẽ tiếp thu những kiến nghị hợp lý, Cục Thuế XNK đang thực hiện rà soát và sẽ trình lãnh đạo Tổng cục phương án thực hiện- ông Nguyễn Hoàng Tuấn nhấn mạnh.

Được biết, trong công văn gửi Tổng cục Hải quan, VLA kiến nghị bỏ chi phí D/O ra khỏi các khoản phải điều chỉnh cộng khi xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa NK; Và chỉ khai báo phí vệ sinh container thông thường vào các khoản phải điều chỉnh cộng khi xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa NK.

Bên cạnh đó, VLA cũng kiến nghị, Tổng cục Hải quan làm việc lại với Tổng cục Thuế để có sự thống nhất về thuế GTGT đối với các khoản phải cộng điều chỉnh như phí CIC/EIS, D/O, vệ sinh container. Bởi theo luật thuế GTGT thì hoạt động vận chuyển quốc tế O/F có thuế suất thuế GTGT là 0%. Như vậy, hiện tại theo quy định của Luật Thuế GTGT và Tổng cục Thuế hướng dẫn các DN có hoạt động kinh doanh vận chuyển quốc tế thì chỉ có cước phí vận chuyển quốc tế O/F, EXW (phí giao nhận đầu nước ngoài) có thuế suất là 0%, còn lại các phí khác như THC, D/O, CIS, vệ sinh container có thuế suất 10%.

Một kiến nghị khác cũng được VLA kiến nghị với Tổng cục Hải quan là không tiến hành kiểm tra sau thông quan và truy thu lại những tờ khai chưa khai thêm phụ phí điều chỉnh cộng như CIS, D/O, vệ sinh container… trước khi công văn 1237/TCHQ-TXNK ngày 8/3/2018 hướng dẫn.

Thu Trang